Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Nhằm mục đích bổ trợ kiến thức cho các bạn sinh viên ngành khoa học đất, Môi trường đất... tôi xin cung cấp thông tin về quá trình phèn hóa và đất phèn. Vì tôi nhận được nhiều thư hỏi về phè hóa bài viết này sẽ cung cấp kiến thức cho tất cả các bạn sinh viên đã viết thư cho tôi. Chúc các bạn học tốt và thành công.

 Hiện nay có nhiều quan điểm:1. TS. Fridland cho rằng, S có trong nước biển theo thuỷ triều vào vùng nước lợ. Còn sắt, Al do các sản phẩm phong hoá theo dòng chảy ở dạng phù sa, tạo nên phèn. Tuy nhiên, quan điểm này không giải thích được có những nơi chế độ nước của các con sông giống nhau, ảnh hưởng thuỷ triều như nhau, nhưng có vùng tạo phèn có vùng không.2. Moócmann cho rằng, sự hình thành phèn xuất hiện ở vùng nước lợ, có thuỷ triều xâm nhập và có sự tham gia của vi sinh vật với các giai đoạn sau:a) Ion bị khử trong điều kiện thiếu oxy. Trong giai đoậnnỳ phải có đầy đủ hữu cơ để làm nguồn thức ăn cho vi sinh vật thiobacilus.b) Sau đó, phản ứng giữa H2S với Fe có trong đất để tạo thành pyrite FeS2 (màu xám, sét).Giai đoạn này nếu có CaCO3 thì không sinh ra phèn. Nhưng nếu thiếu Ca thì phản ứng tiếp tục ở giai đoạn 3.c) FeS2 nếu có oxy thì oxy hoá để tạo thành FeSO4  và H2SO4  theo phản ứng.

d) Sau khi đã có axit H2SO4 và FeSO4 thì trong điều kiện có đủ oxy và vi sinh vật sẽ:

2FeSO4 + H2SO4 + O  Fe2(SO4)3 + H2O

Màu vàng rơm (tầng Jarosite) chính là màu của Fe2(SO4)3…
Theo tác giả ở đây cũng có phản ứng thuận nghịch:

Fe2(SO4)3 + 2H2O - 2FeSO4(OH) + H2SO4

H2SO4 vừa được hình thành sẽ phản ứng mạnh với khoáng sét để tạo thành sulfat, Al, natri và kali theo phương trình:

Al2O3SiO3 + 3 H2SO4  Al2(SO4)3 + silic hydroxit

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào
Ảnh đào phẫu diện

ĐẤT PHÈN

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

3. Theo Van Rees có 3 điều kiện để hình thành đất phèn:a)  có trong nước biển và trầm tích biển khi ở điều kiện khử sẽ tạo thành sunfat Fe và các sunfua khác.b) Sau đó cần có môi trường oxy hoá để oxy hoá Sunfua Fe cho ra Fe2SO4, Al2(SO4)3 hay FeSO4. Đất trở nên chua, hoá phèn.

c) Nếu trong đất có CaCO3 thì phản ứng tiếp tục theo chiều hướng sau:

2CaCO3 + 2H2 SO4  CaSO4.2H2O + 2CO2

4. Gần đây Pons và Van Breeman đã xác định thêm về nguồn gốc của đất phèn:a) Với đất phèn tiềm tàng: Sự hình thành đất này bao gồm sự tọ thành khoáng pyrite, chứa từ 2-10% trong đất. Sự tạo thành pyrite là do sự khử sulffat thành sulffit, dưới tác dụng của vi sinh vật. Sau đó sulfit (H2S) sẽ bị oxy hoá từng phần thành nguyên tố sulfua.Sự tác động qua lại giữa các ion Fe+2 và Fe+3  với sunfit và nguyên tố sulfua cũng có sự tham gia của vi sinh vật. Như vậy sự tạo thành pyrite (FeS và FeS2) cần có: sunfat, Fe, chất hữu cơ đã phân huỷ, vi khuẩn có khả năng khử sunfat trong điều kiện kỵ khí và háo khí xảy ra luân phiên. Ở vùng nhiệt đới, dưới các rừng lầy lội, vật liệu hữu cơ rất nhiều. Ở đây mức thuỷ triều cao hay thấp có ảnh hưởng tới thời gian thoáng khí và kỵ khí. Pyrite được hình thành và tích tụ nhiều ở vùng kênh rạch có ảnh hưởng của thuỷ triều. Thật vậy, những nơi có thuỷ triều chênh lệch ít và không có nước biển tràn vào thì tầng pyrite mỏng. Ở vùng bờ biển mới bồi đắp thường chứa ít pyrite vì chưa đủ thời gian lắng đọng. Bởi vì muốn tạo được 1% pyrite trong đất phải mất ừ 50-1000 năm.b) Đất phèn hoạt động (cố định).

- Khi đất phèn, tiềm tàng bị thoáng khí và mức nước ngầm giảm hạ xuống dưới tầng pyrite, nghĩa là vào mùa khô, mặt đất nứt nử, thì pyrite bị oxy hoá thành FeS2 dễ hoà tan và axit H2SO4.

FeS2 + 7/2O2 + H2O  Fe+2 + 2 + 2H+

Phản ứng sẽ được tăng cường khi có mặt vi khuẩn Thiobacillus và những vi khuẩn khác có thể sống được ở pH  2.
Vi khuẩn Thiobacillus Ferroxidans đã tham gia trong quá trình chuyển hoá Fe+2  Fe+3 để tạo thành phèn.

Fe+2 +  + 1/4O2 + 5/2H2O  Fe(OH)3 + 2H+ +
Fe+2 +  + 1/4O2 + 3/2H2O + 1/3K+  1/3Fe(SO4)2(OH)6 + H+ + 1/3

Sự xuất hiện của Fe+3 dưới dạng Fe2(SO4)3 và của KFe3(SO4)2(OH)6 đã làm cho đất có màu vàng đặc trưng.Khi đã xuất hiện màu vàng rơm (Jarosite) tức là đất phèn tiềm tàng đã chuyển sang phèn hoạt động.5. Theo một số tác giả Việt Nam thì:Vào thờikỳ địa chất cách đây 5-6 ngàn năm, do biển nâng lên hạ xuống tạo một vùng biển cạn và bùn, biển, trên bùn biển mọc rừng sú vẹt, chúng bị vùi lấp dưới các phù sa cận sinh và phù sa mới. Sự phân huỷ của các sút vẹt và nước thuỷ triều xâm nhập tạo ra nhiều S và đó là nguồn gốc . Sự tạo thành có thể bằng 2 con đường.a)  hay các dạng S được tích luỹ trong cây sú vẹt. Rừng sú vẹt trong điều kiện nước lợ bùn biển phát triển mạnh và sau đó bị vùi lấp. Quá trình phân giải yếm khí có sự tham gia của vi khuẩn Clostridium, Thiobacillus thioxidans để tạo ra số sản phẩm là CO2, axit hữu cơ, S hữu cơ, S và H2S.b) Sự tạo thành  là S hay  có trong mẫu chất, nước biển xâm nhập theo thuỷ triều vào vùng bùn mặn có sú vẹt hay không có sú vẹt.- Tổ hợp thứ 2 góp phần hình thành phèn là Fe. Ở nhiệt đới quá trình feralit phát triển mạnh, nghĩa là Fe có nhiều và do phù sa sông chuyển ra bờ biển. Và sự tạo thành FeS hoặc FeS2 xảy ra vừa bằng con đường hoá học vừa do vi sinh vật sắt, FeS2.Ở đây, FeS2 ổn định hơn, nếu FeS dễ dàng chuyển sang FeS2.Khi trong đất có pyrite thì xảy ra 2 trường hợp.a) Nếu đất ngập nước thường xuyên, ở trạng thái khử, không có CaCO3 thì đất này gọi là đất phèn tiềm tàng.b) Nếu đất bị oxy xâm nhập, quá trình oxy hoá xảy ra mạnh và tạo nhiều H2SO4.FeS  S  H2SO4

Đồng thời với sự tạo thành H2SO4 trong đất, sản phẩm oxy hoá, còn có muối của chúng nữa, ví dụ FeSO4.

- Trong dung dịch FeSO4 một phần phân ly thành Fe+2 và , mặt khác Fe+2. lại có thể tạo thành Fe+3 dạng sulfat hay dạng Fe(OH)3. Chúng ta thấy màu vàng váng có ánh nổi lên trên mặt nước, đó là hỗn hợp của Fe2(SO4)3 và Fe(OH)3.3H2O.

- Khi đã có nhiều H2SO4 nó sẽ tác dụng với các alumosilicat trong đất và giải phóng ra nhiều Al+3 độc và pH  2 và tạo thành phèn Al2(SO4)3.


Page 2

Tìm Hiểu Về Đất Phèn

Đất phèn là loại đất rất phổ biến của vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, vì một số đặc tính như pH rất thấp, nghèo dinh dưỡng, hàm lượng độc chất cao nên việc cải tạo đất phèn để có thể canh tác được rất tốn kém và mất nhiều thời gian. Cùng Tin Cậy tìm hiểu đất phèn được hình thành như thế nào, cách cải tạo đất phèn ra sao?

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Tìm hiểu về đất phèn

Đất phèn hoạt động

1. Ðiều kiện và quá trình hình thành đất phèn

Ðất phèn thường được hình thành và phát triển ở những vùng địa mạo đầm lầy, rừng ngập mặn, cửa sông có địa hình trũng, khó thoát nước. Do sản phẩm bồi tụ phù sa kết hợp với vật liệu sinh phèn (xác sinh vật chứa nhiều lưu huỳnh) và muối phèn.

Bạn đang xem: đất phèn là gì

Thực vật tự nhiên ở đây chủ yếu là những cây ưa nước có muối như ôrô, cỏ năn, cỏ lác, cỏ gà nước. Những diện tích đang được canh tác chủ yếu trồng lúa, cói và một số loại hoa màu khác song năng suất nói chung còn thấp do đất chua mặn.

Về vị trí so với đất mặn, nhìn chung đất phèn nằm sâu vào đất liền hơn. Ở đồng bằng sông Cửu Long đất phèn có sự xen kẽ rất phức tạp với đất mặn và đất phù sa. Trong đất xảy ra các quá trình mặn hóa, chua hóa, glây và sét hóa làm cho đất có thành phần cơ giới nặng. Tuy nhiên trong đất phèn hai quá trình mặn hóa và chua hóa diễn ra rất mạnh và chúng quyết định các đặc tính của đất phèn.

Quá trình mặn hóa: được hình thành do trong đất có chứa một số lượng muối tan nhất định như muối NaCl, Na2SO4. Các muối này có nguồn gốc từ nước biển, trải qua thời gian lượng muối NaCl đã giảm nhờ tính hòa tan cao, còn lại muối Na2SO4 được tích lại ở đất phèn. Trong đất phèn do ion Cl– dễ bị rửa trôi trong khi ion SO42- lại thường xuyên được bổ sung, tích lũy bởi quá trình phèn hóa trong qua trình phân hủy các xác hữu cơ (sú, vẹt, đước) do đó tỷ lệ Cl–/ SO42- – và SO42- có chiều hướng tăng dần theo chiều sâu phẫu diện.Quá trình chua hóa: được kết luận sơ bộ về nguyên nhân làm cho đất chua là do lưu huỳnh có nguồn gốc từ nước biển tích lũy lại theo 2 con đường:Con đường thứ nhất là do những phản ứng hóa học thuần túy như kiểu các muối sunphat ít tan khi nồng độ tăng lên kết tủa lại sinh ra nhiều SO42- làm đất hóa chua.Con đường thứ hai qua tích lũy sinh học từ xác các thực vật rừng ngập mặn (phổ biến là các cây sú, vẹt, đước…). Trong quá trình sống các loại cây này hấp thụ và tích lũy S ở dạng hữu cơ, sau khi chết đi xác của chúng được phân giải ở điều kiện yếm khí, các hợp chất chứa lưu huỳnh bị biến đổi thành S2- chủ yếu ở dạng pyrite (FeS2) và sunphua hydro (H2S), hợp chất FeS2 trong đất khi gặp điều kiện oxy hóa chúng sẽ biến đổi tạo ra SO42-.

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Tầng C là nơi phèn hình thành tích lũy

2. Phân loại đất phèn

Theo phân loại đất của FAO – UNESCO đất phèn được xác định do sự có mặt ở trong phẫu diện đất 2 loại tầng chẩn đoán chính đó là tầng sinh phèn (sunfidic horizon) và tầng phèn (sulfuric horizon). Nếu đất chỉ có tầng chứa vật liệu sinh phèn gọi là đất phèn tiềm tàng, đất có tầng phèn (thường có cả tầng sinh phèn) gọi là đất phèn hoạt động.

Tầng sinh phèn (sulfuric horizon) là tầng tích lũy vật liệu chứa phèn (sulfuric materials) là tầng sét hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO3 trên 1,7% (tương đương với 0,75% S); khi oxy hóa cho pH dưới hoặc bằng 3,5.

Tầng phèn (sulfuric horizon) là một dạng tầng B xuất hiện trong quá trình hình thành và phát trển của đất phèn tiềm tàng, tập trung chủ yếu là khoáng Jarosite dưới dạng đốm vệt màu vàng rơm (2,5Y) có pH thường dưới 3,5. Tầng chứa Jarosite cũng là tầng chỉ thị cho đất phèn hoạt động.

Nhóm đất phèn (Thionosols) được chia ra thành các đơn vị sau:

Ðất phèn tiềm tàng: Protothionic Gleysols (FLtp)Ðất phèn hoạt động: Orthithionic Fluvisols (FLto)

Ðặc điểm chung đất phèn có thành phần cơ giới nặng (sét: %>50%), đất rất chua (pHKCl: 3- 4,5). Hàm lượng hữu cơ trong đất khá (OC%: 2- 4%); hàm lượng lân nghèo đến rất nghèo cả tổng số và dễ tiêu (P2O5% 2O5 dễ tiêu2O5: 1,5- 2,0%). Hàm lượng S% tương đương hoặc lớn hơn 0,75%. Hàm lượng nhôm di động Al3+ trong tầng sinh phèn cao (có chỗ lên đến >50 mg/100g đất).

Xem thêm: Ăn Gì Để Trắng Da Toàn Thân Tự Nhiên Nhanh Nhất, 7 Thực Phẩm Trắng Da Nhanh

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Đất bị xì phèn sẽ chuyển trạng thái từ phèn tiềm tàng -> phèn hoạt động

1. Ðất phèn tiềm tàng (Protothionic Gleysols- GLtp ):

Có khoảng 600 ha tập trung chủ yếu ở ven biển đồng bằng Nam Bộ. Ðất được hình thành do sự có mặt của tầng sinh phèn (Sulfidic Horizon), đây cũng chính là tầng vật liệu chứa phèn (Sulfidic Materials), gồm tầng sét và tầng hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO3 trên 1,7% (tương đương với 0,75% S).

Ðất phèn tiềm tàng hiện đang được khai thác trồng lúa, nuôi tôm, ở những rừng ngập mặn sú, vẹt, đước có một số diện tích phèn nhiều đặc thù hiện đang được bảo vệ để bảo tồn những đàn chim quý hiếm.

2. Ðất phèn hoạt động (Orthithionic Fluvisols- FLto):

Có khoảng gần 1,4 triệu ha phân bố chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Ðất hoạt động được hình thành do có tầng phèn (Sulfuric Horizon), là một dạng tầng B xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển từ đất phèn tiềm tàng, tập trung khoáng Jarosite dưới dạng đốm vệt vàng rơm có màu 2,5Y đây cũng chính là tầng chỉ thị của đất phèn hoạt động; pH của đất thường dưới 3,5. Ðất này thường được sử dụng trồng lúa.

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Nên giữ một tầng đất canh tác để ém phèn bên dưới

3. Cải tạo đất phèn

Diện tích đất phèn bỏ hoang ở nước ta hiện nay còn khá lớn. Những diện tích đất phèn đã được khai thác vào sản xuất cây trồng chủ yếu là trồng 2 vụ lúa (đông xuân và hè thu) năng xuất cây trồng ở đây phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa hàng năm. Trên loại đất này nông dân nông dân có kinh nghiệm “ém phèn” để trồng lúa bằng biện pháp cày nông, bừa sục giữ nước liên tục và tháo nước theo định kì. Với hệ thống thủy lợi ngày càng được hoàn thiện cùng với sự thay thế những giống có khả năng chống chịu phèn có thể đạt năng suất bình quân 6- 7 tấn thóc/ ha/ năm. Ðất phèn là loại đất cần phải cải tạo khi sử dụng, để cải tạo chúng người ta thường áp dụng các biện pháp chính sau:

Biện pháp thủy lợi

Ðể có thể sản xuất ở trên vùng đất phèn mới khai hoang phải tiến hành thau rửa chua mặn do đó biện pháp thủy lợi phải được đặt lên hàng đầu. Muốn thau rửa mặn người ta thường tiến hành lên líp hoặc xây dựng hệ thống kênh tưới và kênh tiêu song song. Một số nơi có kinh nghiệm khoan các giếng sâu, thường xuyên bơm nước lên ruộng rồi tiêu xuống mương tiêu, hạ thấp mực nước ngầm mặn (mỗi giếng đảm nhiệm diện tích cho khoảng 100 ha).

Bón vôi cho đất

Bón vôi có tác dụng rất tốt cho việc khử chua và hạn chế tác hại của nhôm di động trong đất. Lượng vôi phải dùng rất nhiều và hiệu quả của chu kỳ bón vôi lại rất ngắn (một, hai vụ thì chua trở lại). Do đó theo các kết quả nghiên cứu thì nên bón hàng năm, mỗi năm chỉ bón một lượng vừa phải (tương đương 1/3- 1/4 mức độ chua thủy phân) là kinh tế nhất.

Biện pháp phân bón

Bón phân cân đối giữa N,P,K và hợp lý cho cây trồng. Trong các loại phân bón N,P,K cần lưu ý tới phân lân (P) bón ở đất phèn cho hiệu quả sử dụng rất cao, vì lân cũng chính là yếu tố dinh dưỡng hạn chế rõ nhất đối với cây trồng trên loại đất này. Sử dụng phân hữu cơ lâu dài cũng là biện pháp hiệu quả để cải thiện pH, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển.

Tầng sinh phèn hình thành trong điều kiện nào

Một số phân hữu cơ góp phần tăng pH đất

→ Tham khảo sản phẩm: Phân hữu cơ Humic 95% Acid Powder

Biện pháp canh tác

Ðối với các biện pháp canh tác, việc làm đất cần phải lưu ý giữ nước thường xuyên trong ruộng để trồng lúa, không nên để nước cạn và tuyệt đối không cày ải đối với đất phèn. Những nơi đất bị phèn mạnh phải “lên líp” rửa phèn rồi mới sử dụng cho trồng trọt được.

Ðối với cây trồng phải lựa chọn những loại cây có tính chống chịu phèn (hoặc chua mặn), ở những nơi địa hình thấp trũng ngập nước có thể trồng cói một số năm cho giảm lượng muối phèn trước khi trồng lúa. Những nơi đất có địa hình cao có thể trồng dứa, mía hoặc một số loại cây ăn quả có khả năng tồn tại và phát triển được ở đây.

Xem thêm: Thuốc Nexium 40Mg Uống Trước Hay Sau Ăn, Thuốc Nexium 40Mg: Tổng Hợp Thông Tin Liên Quan

Trong thực tế việc thau chua rửa mặn ở đây gặp rất nhiều khó khăn bởi những vùng đất phèn cũng là những vùng rất thiếu nước ngọt nên việc đảm bảo nước cũng chỉ giải quyết được ở một số vùng có điều kiện thuận lợi về nguồn nước ngọt.