Chứng khoán phái sinh có trường hợp nào mất thanh khoản không cho ví dụ

Thanh khoản là một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể, thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn.

Tính thanh khoản được đo bằng thời gian và chi phí để chuyển đổi 1 tài sản sang tiền mặt.

Ví dụ: tiền mặt có tính thanh khoản cao, vì nó thường có thể được “bán” [để đổi lấy hàng hóa] với giá trị gần như không thay đổi. Chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu… cũng tương tự nếu chúng khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng. Còn các tài sản khác như bất động sản, vàng… có tính thanh khoản thấp hơn vì để chuyển đổi các tài sản này thành tiền mặt phải mất một thời gian dài cho đến rất dài. Cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là tính lỏng, tính lưu động.

Chứng khoán có tính thanh khoản

Tính thanh khoản chứng khoán là khả năng chuyển đổi từ tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại. Chứng khoán có tính thanh khoản cao là những chứng khoán có sẵn trong thị trường, nên việc mua đi bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian, có khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư ban đầu.

Tính thanh khoản của chứng khoán cho phép nhà đầu tư có thể chuyển đổi thành tiền mặt nhanh khi cần thiết. Điều này khiến thị trường chứng khoán càng trở nên hấp dẫn. Tính thanh khoản của chứng khoán càng cao chứng tỏ thị trường càng năng động.

Rủi ro trong thanh khoản chứng khoán

Các nhà đầu tư không chỉ quan tâm tới tính thanh khoản chứng khoán mà còn cân nhắc khả năng bán lại chúng để thu hồi vốn. Khi khó tìm được người mua hoặc phải bán giá thấp hơn, tức là chứng khoán đó có khả năng hồi phục kém. Lúc này nhà đầu tư sẽ phải chịu tổn thất tài chính.

Thực tế nếu một nhà đầu tư nắm trong tay rất nhiều chứng khoán nhưng không thể bán ra được, chỉ biết chịu thua lỗ từng ngày thì đây chính là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán.

Yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản chứng khoán

Tính thanh khoản có ảnh hưởng quyết định tới “số mệnh” chứng khoán của một doanh nghiệp. Vậy nên có nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến tính thanh khoản chứng khoán như sau:

– Những con số tài chính sẽ phản ánh tính hình hoạt động sản xuất – kinh doanh có ổn định và phát triển hay không. Doanh nghiệp lớn uy tín, làm ăn tốt sẽ có tính thanh khoản cao và ngược lại, tình hình kinh doanh không tốt, tính thanh khoản cũng thấp.

– Chính sách của Nhà nước: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều tuân theo và chịu tác động từ quy định của các cơ quan quản lý. Do đó, tính thanh khoản cũng chịu sự tác động này. Ví dụ năm 2007, chỉ thị số 03 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành về khống chế dư nợ vốn cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá… cho khách hàng đầu tư, kinh doanh chứng khoán của Tổ chức tín dụng ở mức dưới 3% đã gây sốc với thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán lao dốc, hàng loạt mã chứng khoán giảm mạnh nhưng nhà đầu tư không có nguồn tiền hỗ trợ từ ngân hàng nên không thể mua vào ở thời điểm chỉ thị được ban hành.

– Đối với các nhà đầu tư nước ngoài: Pháp luật nước ta quy định chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua 30% cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần đã niêm yết, được mua 49% cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề khác đã niêm yết. Điều này khiến giới đầu tư nước ngoài không được phép mua hết cổ phiếu họ đang nhắm đến nên buộc phải chọn loại phù hợp nhất. Do đó cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận giới đầu tư nước ngoài bị hạn chế hơn.

– Tâm lý của các nhà đầu tư: Việc mua bán trên thị trường phụ thuộc nhiều vào thời điểm và nhu cầu của nhà đầu tư. Khi thị trường đang khởi sắc thì nhà đầu tư cũng hứng thú chi tiền mua bán hơn. Khi thị trường đang giảm điểm, nhà đầu tư sẽ có tâm lý hoang mang, dè dặt và cẩn trọng hơn.

Khuyến cáo nhằm hạn chế rủi ro

Các sản phẩm như vàng, bất động sản hay bảo hiểm… trên thị trường đều có mối quan hệ liên thông với nhau. Khi thị trường biến động đều sẽ ảnh hưởng toàn diện tới thị trường chứng khoán, gây nên rủi ro thanh khoản.

Do đó khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, các nhà đầu tư nên xem xét đến khả năng bán lại để bảo toàn nguồn vốn đầu tư ban đầu. Để hạn chế rủi ro thanh khoản chứng khoán, các nhà đầu tư nên tìm cách phân bổ nguồn vốn phù hợp. Đây là cách để tránh rủi ro chứng khoán, phòng ngừa khả năng không bán lại được, hoặc bị mất giá khi bán.

Đặc điểm

+ Tài sản cơ sở: Chỉ số VN30.

+ Hệ số nhân: 100.000 đồng.

+ Tháng đáo hạn: Tháng hiện tại, tháng kế tiếp, hai tháng cuối 02 quý tiếp theo.

+ Phương thức giao dịch: Khớp lệnh & thỏa thuận.

+ Thời gian giao dịch: Mở cửa trước 15 phút, đóng cửa cùng thị trường cơ sở.

+ Biên độ dao động giá: ± 7%.

+ Bước giá:  0,1 điểm chỉ số [tương đương 10.000 đồng].

+ Ngày giao dịch cuối cùng: Ngày thứ 5 lần 3 trong tháng đáo hạn.

+ Ngày thanh toán cuối cùng: Ngày làm việc liền sau ngày giao dịch cuối cùng.

+ Tài sản cơ sở:  Trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm, mệnh giá 100.000 đồng, lãi suất danh nghĩa 5%/năm, trả lãi định kỳ cuối kỳ 12 tháng/lần, trả gốc một lần khi đáo hạn.

+  Tháng đáo hạn:  03 tháng cuối 03 quý gần nhất.

+  Bước giá:  1,0 [tương đương 10.000 đồng].

+  Quy mô hợp đồng:  1.000.000.000 đồng.

+  Biên độ giao động giá:  ± 3% so với giá tham chiếu.

+  Ngày đáo hạn:  Ngày 15 của tháng đáo hạn hoặc ngày giao dịch liền trước nếu ngày 15 là ngày nghỉ.

+  Ngày thanh toán cuối cùng:  Ngày làm việc thứ ba kể từ ngày giao dịch cuối cùng.

+  Phương thức thanh toán: Chuyển giao vật chất.

Tính thanh khoản là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đầu tư tài chính. Việc hiểu được thuật ngữ này sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà đầu tư trong tài việc phân tích thị trường. Vậy Tính thanh khoản là gì? Những đặc điểm, ý nghĩa của nó ra sao? Hãy cùng Yuanta Việt Nam tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!

Tính thanh khoản và những điều nhà đầu tư cần biết!

Tính thanh khoản [hay trong tiếng anh là Liquidity] là một thuật ngữ dùng trong tài chính để thể hiện mức độ linh hoạt của một tài sản khi được thực hiện giao dịch, mua bán trên thị trường mà hầu như không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Ở đây mức độ linh hoạt của một tài sản được hiểu là khả năng chuyển đổi thành các loại tài sản có giá hay tiền tệ của tài sản đó.

Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao thường có đặc trưng là được mua bán nhanh chóng mà giá không bị chênh lệch đáng kể với số lượng giao dịch lớn.

Một ví dụ điển hình có thể kể đến là tiền mặt bởi đây là một loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất có thể dùng để “bán” mà hầu như không thay đổi về mặt giá trị. Bên cạnh đó, các tài sản khác như máy móc, bất động sản, nhà máy,… có tính thanh khoản thấp hơn. Để có thể mua bán, chuyển đổi các tài sản này thành tiền mặt đòi hỏi phải mất một thời gian nhất định để tìm người giao dịch có nhu cầu phù hợp.

Xếp loại các tài sản

>>> Xem thêm: Hướng dẫn Mở tài khoản chứng khoán

Căn cứ vào khái niệm, trong kế toán đặc tính được sắp xếp từ cao tới thấp cụ thể như sau:

  • Tiền mặt
  • Đầu tư trong ngắn hạn
  • Khoản phải thu
  • Ứng trước ngắn hạn
  • Hàng tồn kho

Trong đó, tài sản có tính thanh khoản cao nhất là tiền mặt vì có thể dùng để trực tiếp thanh toán, tích trữ và lưu thông. Ngược lại, hàng tồn kho do phải qua phân phối rồi đến khoản phải thu và sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt. Vì vậy đây được xem là loại tài sản có tính thanh khoản thấp nhất. Bên cạnh đó, chứng khoán cũng là một loại tài sản có khả năng thanh khoản rất cao.

Hoạt động đánh giá tình hình thanh khoản của tài sản mang lại những lợi ích đối với không chỉ các nhà cung cấp, nhà đầu tư hay ngân hàng mà còn giúp chính doanh nghiệp đó nắm được tình hình thanh toán của mình. Từ đó, đề ra những kế hoạch và hướng quản trị tài chính tốt nhất.

Trong một doanh nghiệp việc đánh giá tính thanh đóng một vai trò rất quan trọng đối với tình hình tài chính. Cụ thể:

  • Thể hiện tính thanh khoản của công ty từ đó bộ máy tổ chức có thể nhận thấy các vấn đề và đưa ra hướng xử lý phù hợp nhất.
  • Giúp doanh nghiệp phát hiện ra các vấn đề tiềm ẩn và giải quyết dứt điểm. Từ đó, đảm bảo các khoản vay được thanh toán đúng theo kỳ hạn đồng thời giữ vững niềm tin trong mắt các nhà đầu tư và các đối tác.
  • Đội ngũ lãnh đạo sẽ đưa ra các phương án quản trị phù hợp giúp tối ưu nguồn tài chính, tăng tính thanh khoản. Điều này nhằm nâng cao dòng tiền lành mạnh và linh hoạt, để phát triển khi có cơ hội và tiết kiệm cần thiết khi tình hình trở nên khó khăn.
  • Thông qua việc đưa các phương án quản trị phù hợp từ đội ngũ lãnh đạo, có thể giúp doanh nghiệp tăng tính thanh khoản và tối ưu nguồn tài chính. Khi tình hình doanh nghiệp trở nên khó khăn, việc nhận biết tính thanh khoản này sẽ giúp tiết kiệm và tạo cơ hội để phát triển nhằm nâng cao dòng tiền lành mạnh cho doanh nghiệp.

Đối với các nhà đầu tư, ngân hàng và chủ nợ của doanh nghiệp, việc đánh giá tính thanh khoản của doanh nghiệp đó đem lại một số ý nghĩa nhất định như sau:

  • Đánh giá được tình hình thanh khoản của một đơn vị tổ chức sẽ giúp các bên cho vay, đầu tư có thể nhận biết được các rủi ro về mặt thanh khoản của doanh nghiệp. Từ đó có thể cân nhắc và đưa ra quyết định có nên cho vay, đầu tư không.
  • Nếu doanh nghiệp đang có khoản nợ với ngân hàng, phải thanh lý tài sản để đáp ứng chi trả cho khoản nợ đó. Khi đó, ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp bằng cách cho vay thông qua hình thức thế chấp tài sản đó.
  • Dựa vào chỉ số thanh khoản này mà các nhà đầu tư có thể nhận biết được có nên đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không.

Đối với chứng khoán

Trong chứng khoán, tính thanh khoản được thể hiện thông qua khả năng dễ dàng mua bán hay giao dịch với giá cả ổn định trong ngắn hạn. Các nhà đầu tư thông qua thị trường chứng khoán có thể dễ dàng chuyển đổi từ chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Từ đó, thể hiện được sự linh hoạt và an toàn của vốn.

Tính thanh khoản của chứng khoán được đo lường bằng thời gian và chi phí để chuyển đổi thành tiền mặt.

Từ hai yếu tố chính là chi phí và thời gian mà người ta dựa vào đó để đo lường tính thanh khoản của chứng khoán. Khi một nhà đầu tư mất nhiều chi phí và thời gian để có thể thu hồi vốn của mình thì đó được gọi là rủi ro trong thanh khoản chứng khoán. 

Việc này có nghĩa là nhà đầu tư phải chấp nhận mức giá thấp hơn để chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt hay khó tìm được người mua với mức giá kỳ vọng. Khi đó, nhà đầu tư sẽ phải chịu một mức lỗ nhất định.

Các chỉ số tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ được tình hình hoạt động kinh doanh sản xuất của một tổ chức. Có rất nhiều các chỉ số tài chính phản ánh kết quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp như: Tỷ số P/E, chỉ số ROE, lợi nhuận,…

Các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài.

Các chính sách quy định của nhà nước tác động đến doanh nghiệp. Tùy vào tình hình phát triển chung của đất nước mà các cơ quan chức năng từ chính phủ có thể ban hành những quy định áp dụng với từng ngành nghề kinh doanh khác nhau.

Từ tâm lý của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư, tồn tại đa dạng các phân khúc nhà đầu tư như ngắn hạn hay trung, dài hạn. Trong đó, hoạt động của các nhà đầu cơ trong ngắn hạn thường sẽ chịu biến động và phụ thuộc vào thị trường. Từ đó ảnh hưởng đến tính thanh khoản của thị trường chứng khoán.

Tình hình chung của thị trường và các yếu tố nội tại của doanh nghiệp là hai yếu tố chính mà các sản phẩm đầu tư tài chính như chứng khoán bị phụ thuộc vào. Do đó, để hạn chế các rủi ro thanh khoản cần cân nhắc những cách sau:

  • Xem xét và đánh giá khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
  • Nhận định được xu hướng biến động của thị trường nói chung và từng lĩnh vực nói riêng.
  • Nên có những kế hoạch thực hiện phân bổ nguồn lực doanh nghiệp một cách hợp lý.

Đối với ngân hàng

Người ta có thể dựa vào đặc điểm này để đánh giá một ngân hàng đang hoạt động tốt hay xấu. Ngân hàng phải đáp ứng được các nhu cầu rút tiền hay giải ngân một cách tức thời như đã cam kết với khách hàng. Từ đó, có thể đánh giá được ngân hàng có tính thanh khoản tốt hay không.

Tại ngân hàng tính thanh khoản sở hữu những đặc điểm quan trọng và có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng dịch vụ, cụ thể:

Ngân hàng không thể kiểm soát hoàn toàn được nhu cầu gửi hay rút vốn của khách hàng. Từ đó dẫn đến việc ngân hàng luôn trong trạng thái thâm hụt hay thặng dư, do cung và cầu tiền mặt thường không cân bằng.

Một ngân hàng giữ lại nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản càng nhiều thì đồng nghĩa với việc lợi nhuận của ngân hàng đó càng thấp và ngược lại.

Tồn tại một số chỉ tiêu định tính và định lượng để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng, cụ thể:

  • Các chỉ tiêu định lượng có thể tính toán được các tỷ lệ đối với:  Tài sản có tính thanh khoản cao bình quân so với tổng tài sản bình quân; Nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn; Dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; Tiền gửi của khách hàng có số dư tiền gửi lớn so với tổng tiền gửi.
  • Chỉ tiêu định tính gồm mức độ tuân thủ luật pháp về: tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi; tỷ lệ khả năng chi trả, sửa đổi, ban hành, bổ sung, rà soát và báo cáo quy định nội bộ về các quản lý thanh khoản, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn,… đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật khác về quản lý rủi ro thanh khoản.

Cụ thể theo quy định tại điều 11 của Thông tư 52/2018/TT-NHNN về xếp hàng các tổ chức tín dụng hay chi nhánh ngân hàng nước ngoài được ban hành bởi Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, chính thức có hiệu lực từ 01/04/2019. Khả năng thanh khoản được đánh giá dựa trên tiêu chí theo các nhóm chỉ tiêu sau đây:

“1. Nhóm chỉ tiêu định lượng:

a] Tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản cao bình quân so với tổng tài sản bình quân;

b] Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn;

c] Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi;

d] Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng có số dư tiền gửi lớn so với tổng tiền gửi.

Nhóm chỉ tiêu định tính:

a] Tuân thủ các quy định pháp luật về tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi;

b] Tuân thủ các quy định pháp luật về ban hành, rà soát, sửa đổi, bổ sung và báo cáo quy định nội bộ về quản lý thanh khoản và tuân thủ các quy định pháp luật khác về quản lý rủi ro thanh khoản.”

Thanh khoản của ngân hàng đến từ các nguồn như sau:

  • Từ các khoản tiền gửi
  • Từ các khoản phí của các dịch vụ cung cấp
  • Từ các khoản tín dụng
  • Từ việc bán các tài sản đang sử dụng và kinh doanh
  • Từ các khoản vay mượn trên thị trường tiền tệ

Một số hoạt động giúp ngân hàng tạo ra nhu cầu về thanh khoản bao gồm:

  • Các khoản tiền gửi được khách hàng rút lại.
  • Các đề nghị vay vốn từ khách hàng
  • Thông qua việc thanh toán các khoản phải trả khác
  • Chi phí để tạo ra sản phẩm và các dịch vụ ngân hàng
  • Việc thanh toán khoản cổ tức cho các cổ đông.

Một số nguyên nhân

Rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng nguyên nhân do thiếu hụt các tài sản ngắn hạn và ngân quỹ ngân hàng. Từ đó, ngân hàng không đáp ứng được hoặc đáp ứng chậm các nhu cầu thanh khoản của khách hàng hay ngân hàng. Đồng thời ngân hàng không thể huy động vốn ngay và thiếu dự trữ tiền mặt.

Theo điểm c Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT-NHNN đã nêu rõ rủi ro thanh khoản là rủi ro có nguyên nhân từ:

“c] Rủi ro thanh khoản là rủi ro do:

– Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc

– Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó”

Ở phạm vi vi mô, khi bị mất tính thanh khoản các ngân hàng sẽ phải chịu những thiệt hại cụ thể như sau:

  • Để đảm bảo cung ứng tiền mặt cho các nhu cầu thanh khoản, ngân hàng phải chạy đua huy động vốn với lãi suất cao. Từ đó dẫn đến lãi suất cấp tín dụng cũng cao và khó cho vay.
  • Ngân hàng có thể bị lỗ khi phải trả lãi suất huy động nhưng không thể cho vay
  • Ngân hàng có thể mất niềm tin từ người gửi do mất tính thanh khoản thông qua việc không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng không đáp ứng được các nhu cầu giải ngân cho các khoản cấp tín dụng đó.

Khi ngân hàng bị mất tính thanh khoản, ở phạm vi vĩ mô có thể gây ra những ảnh hưởng liên quan đến vấn đề tăng trưởng kinh tế, lạm phát, ổn định đời sống xã hội,… cụ thể:

  • Ảnh hưởng đến các hoạt động về đầu tư của ngân hàng. Khi lãi suất tiền gửi tăng lên, nguồn tiền sẽ được tập trung gửi vào ngân hàng, từ đó giảm kênh huy động vốn từ nền kinh tế.
  • Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng do lãi suất tín dụng cao. Từ đó khiến giá cả tăng [lạm phát tăng], giảm quy mô đầu tư làm giảm tăng trưởng nền kinh tế.
  • Ảnh hưởng trực tiếp đến người dân do giá cả tăng giá.

Một số biện pháp giúp quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng:

  • Đa dạng thu hút nguồn vốn bằng cách sử dụng nghiệp vụ thị trường mở
  • Sử dụng một số công cụ giúp tái cấp vốn
  • Thực hiện và quản lý nghiêm túc các quy định về hoạt động tín dụng từ nhà nước.
  • Cơ cấu lại các nguồn vốn vay, vốn huy động một cách hợp lý giữa trung và ngắn hạn.
  • Duy trì ổn định và hợp lý tỷ lệ tiền gửi ngân hàng và dự trữ tiền mặt.
  • Quản lý chặt chẽ các rủi ro thanh khoản

Qua bài viết trên Yuanta đã cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản về Tính thanh khoản. Hy vọng bạn đã nắm được khái niệm, đặc điểm , ý nghĩa và sử dụng một cách hợp lý trong việc phân tích đầu tư. Chúc bạn đầu tư thành công!

Video liên quan

Chủ Đề