Chung sống như vợ chồng được hiểu như thế nào

Ngày nay, việc các cặp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Điều này xuất phát từ nhu cầu “sống thử” trước khi kết hôn để tìm hiểu nhau hoặc cũng có thể, từ việc cho rằng đăng ký kết hôn là không cần thiết trong xã hội hiện đại, kể cả khi họ đã tổ chức lễ cưới truyền thống trước gia đình và bạn bè.

Dưới góc nhìn pháp lý, tình trạng nói trên có thể tiềm ẩn nguy cơ làm phát sinh tranh chấp về ly hôn, tài sản, nợ chung, con chung giữa các bên mà việc giải quyết những tranh chấp đó không phải là dễ dàng.

Thông qua bài báo này, BLawyers Vietnam sẽ trình bày đến bạn đọc một số lưu ý liên quan đến vấn đề này thông qua 03 câu hỏi bên dưới.

1. Thế nào là “chung sống như vợ chồng”?

Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung, sinh hoạt chung và coi nhau là vợ chồng.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam không cấm việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, trừ các trường hợp như một hoặc hai bên nam, nữ đang có vợ, có chồng hoặc các bên là những người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, …

Trường hợp chung sống như vợ, chồng với người mà các bên biết họ đang có vợ, có chồng thì đã vi phạm quy phạm quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ hôn nhân một vợ một chồng và tuỳ từng trường hợp sẽ bị xử lý hành chính hoặc xử phạt hình sự.

2. Pháp luật Việt Nam có công nhận quan hệ hôn nhân giữa hai bên chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không?

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam hiện hành, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo đó, quan hệ hôn nhân chỉ được hình thành khi hai bên có đủ điều kiện kết hôn và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.

Từ các quy định nêu trên, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tình trạng này không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng cho các bên.

Liên quan đến vấn đề này, pháp luật Việt Nam có quy định một ngoại lệ gọi là “Hôn nhân thực tế”. Theo đó, hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, tuân thủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn thì Việt Nam vẫn công nhận quan hệ hôn nhân của họ kể từ thời điểm bắt đầu chung sống.

3. Giải quyết tranh chấp liên quan đến ly hôn, chia tài sản, và quyền nuôi con như thế nào trong trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn?

Hiện nay, Toà án tại Việt Nam vẫn xem xét thụ lý để giải quyết yêu cầu ly hôn của hai bên nam, nữ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn. Theo đó, dù các bên thuận tình hay đơn phương ly hôn, Toà án sẽ ban hành quyết định không công nhận quan hệ vợ chồng giữa các bên.

Trong trường hợp các bên có yêu cầu giải quyết về con chung và tài sản, nợ chung thì Toà án giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Cụ thể:

  • Quyền, nghĩa vụ giữa hai bên và con như quyền trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng được giải quyết theo các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
    • Tài sản, nợ, nghĩa vụ chung được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên. Trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự về sở hữu tài sản và nghĩa vụ dân sự.

Ngoài ra, việc phân chia tài sản cũng sẽ xem xét đến quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.

Sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn giữa hai bên nam nữ sẽ là một vấn đề phức tạp về mặt pháp lý nếu giữa họ phát sinh con chung, tài sản hay nợ chung trong quá trình chung sống.

Do đó, các bên cần tìm hiểu các hậu quả pháp lý liên quan của các vấn đề nêu trên để xác lập những thoả thuận cần thiết trước khi quyết định chung sống với đối tác của mình.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ consult@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Hiện nay do tác động của đời sống kinh tế, xã hội và các yếu tố khác trong xã hội, tình trạng chung sống như vợ chồng ngày càng có chiều hướng gia tăng và tính chất ngày càng phức tạp. Nhóm đối tượng sống chung như vợ chồng có thể là các đôi nam, nữ "sống thử", các cắp đôi đồng giới, chuyển giới. Vậy khái niệm chung sống như vợ chồng được quy định như thế nào dưới góc độ pháp lý? Thắc mắc trên sẽ được Luật Hoàng Anh tư vấn trong bài viết dưới đây.

  1. Khái quát chung về khái niệm "Chung sống như vợ chồng"

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý "Chung" được hiểu là cùng với nhau làm gì đó và "chung sống" được hiểu là cùng sống với nhau. Theo đó ta có thể hiểu "chung sống như vợ chồng" là việc cùng sinh sống với nhau và xem nhau như vợ chồng, mặc dù chưa đăng kí kết hôn. Dưới góc độ xã hội, chung sống như vợ chồng là nam, nữ về cùng chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không tổ chức hôn lễ cũng như không đăng kí kết hôn. Dưới góc độ thuật ngữ pháp lý thì "chung sống như vợ chồng" chỉ mối quan hệ nam, nữ sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và họ vẫn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau như vợ chồng hợp pháp. Hiện nay, khái niệm này có thể được hiểu theo nhiều cách như sau: - Chung sống như vợ chồng là hiện tượng xã hội phổ biến, chủ yếu xảy ra ở những cặp đôi trẻ yêu nhau. Họ quyết định và tự nguyện sống cùng nhau để tìm hiểu về tính cách, lối sống của nhau có thật sự hòa hợp để tiến tới hôn nhân không. Chung sống như vợ chồng hay còn được gọi là sống thử. - Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ về sống chung vớ nhau, dù chưa đăng ký kết hôn nhưng hai người được gia đình và những người xung quanh công nhận sinh hoạt như vợ chồng và cùng nhau tạo lập tài sản, sinh con chung. - Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ công khai quan hệ chung sống với nhau và không đăng ký kết hôn hoặc không đủ điều kiện đăng ký kết hôn.

II. Pháp luật quy định như thế nào về khái niệm "sống chung như vợ chồng"

Khoản 7, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng". Đây chính là khái niệm pháp lý chính thức về "chung sống như vợ chồng" dành cho người dân và các chủ thể áp dụng pháp luật. Theo đó, chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức sống chung, xem nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn. Để làm rõ hơn về khái niệm Chung sống như vợ chồng quy định tại Khoản 7, Điều 3 Luật này, ta nên đặt nó trong mối tương quan với khái niệm kết hôn và giá trị giấy chứng nhận kết hôn. Theo từ điển Tiếng Việt thì "Kết hôn là việc nam nữ chính thức lấy nhau thành vợ chồng". Khoản 5, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định mà các bên nam nữ cần phải có hoặc không phải có điều kiện đó mới có quyền được kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đăng ký kết hôn là ghi vào sổ đăng ký kết hôn để chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng hợp pháp. Đăng ký kết hôn là hoạt động hành chính nhà nước, là thủ tục pháp lý cần thiết để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân nam nữ. Giấy đăng ký kết hôn là sự thừa nhận của nhà nước đối với quan hệ hôn nhân. Từ điển Luật học giải thích: Giấy đăng ký kết hôn là chứng chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp cho hai bên nam nữ sau khi xem xét các điều kiện kết hôn của họ là hợp pháp. Giá trị của giấy đăng ký kết hôn thể hiện ở những mặt sau đây: giấy chứng nhận kết hôn làm phát sinh quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng; giấy chứng nhận kết hôn làm phát sinh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; Giấy chứng nhận kết hôn làm phát sinh quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng; giấy chứng nhận kết hôn làm phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con từ đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái. Tóm lại, tình trạng chung sống như vợ chồng ngày càng có xu hướng gia tăng và phổ biến trong xã hội. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người trong cuộc mà còn có tác động tiêu cực đến suy nghĩ của những người xung quanh.

Luật Hoàng Anh

Chủ Đề